Cách Omega đánh bại đối thủ hàng đầu của đồng hồ cơ

Công nghệ này là một cuộc cách mạng trong ngành sản xuất đồng hồ! Và trong khi phần lớn các đối thủ đang mơ màng với những gì đang có, Omega đã và đang trang bị cho mình 1 dây chuyền sản xuất công nghiệp cho công nghệ này.

 

Ngày nay, từ trường có mặt ở khắp mọi nơi và trở thành kẻ thù số một của đồng hồ cơ học. Chiếc đồng hồ ngày nay đã vượt qua được vô số thử thách từ thuở sơ khai. Từ khả năng chống bụi và kháng nước  đên việc dầu máy khô quá nhanh, đòi hỏi phải bảo dưỡng thường xuyên đã được xử lý hoàn toàn. Ngoài nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao ra thì gần như không có gì làm khó được các bộ movement ngày nay. Duy nhất có lẽ chỉ còn một  kẻ thù vô hình ở xung quanh chúng ta và còn mạnh mẽ hơn hằng ngày. Đó chinh là từ trường. Các nguồn tạo ra từ trường gây lại cho đồng hồ bao gồm khuy của túi xách; các loại phụ kiện; thiết bị điện tử; thiết bị nhà bếp; điện thoại bàn; điện thoại không dây; smartphone; máy tính bảng; laptop; PC; radio; loa; xe ô tô; thiết bị kiểm tra an ninh tại sân bay và hàng loạt thứ khác. Ví dụ, nếu bạn dùng Ipad với Smart Cover của Apple thì bạn đang có hơn 30 cái nam châm trên tay. Trong Smart Cover có hơn 20 cái nam châm còn trong Ipad thì có hơn mười cái. Vậy nên, việc dùng ipad hàng ngày làm chiếc đồng hồ của bạn tiếp xúc liên tục với từ trường mạnh.

Đến đây thì bạn có thể thấy buồn cười nhưng thực sự thì không!

Cách đây vài tuần, tờ Bloomberg có đưa tin về việc 8000 bác sĩ và chuyên gia đầu ngành tham dự hội nghị “Heart Rhythm Society” ở Denver cảnh báo về các mối nguy hại đến từ  iPad. Một ví dụ được đưa ra về những bệnh nhân sử dụng máy trợ tim, khi nằm đặt ipad lên ngực khiến cho máy trợ tim ngừng hoạt động. Thậm chí ngay cả Apple cũng khuyến cáo bất kì ai dùng máy trợ tim phải tránh việc cầm iPad quá gần và chú ý không ngủ quên khi còn để iPad trên ngực.

Các hiệu ứng mà từ trường gây ra là gì?

Một chiếc đồng hồ cơ chứa hàng trăm bộ phận khác nhau và đều bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với từ trường.  Một số ít không bị ảnh hưởng bởi vì chúng được làm từ vật liệu kháng từ. Những vật liệu này cũng không lưu từ: nghĩa là sau khi tiếp xúc với từ trường, chúng không bị nhiễm từ. Tuy nhiên, nhiều vật liệu sử dụng trong movement lại có từ tính, chúng sẽ bị nhiễm từ khi tiếp xúc với từ trường. Hãy tưởng tượng ra một tô chứa toàn các bộ phận của movement với các đặc tính khác nhau, rồi cho chúng tiếp xúc liên tục với từ trường ở các cường độ khác nhau trong 1 khoảng thời gian nhất định. Một bộ phận mà đặc biệt nhạy cảm đó chính là dây tóc (balance spring). Theo mỗi nhịp chuyển động, dây tóc giữ con lắc dao động (balance wheel) về vị trí ban đầu, đảm bảo giao động hoàn hảo và nhịp nhàng. Nó tạo ra nhịp điệu cho bộ bánh răng, chia đều lực tạo ra bởi ổ cót (spring barrel) vào kim giây, kim phút , kim giờ. Việc đảm bảo balance spring hoạt động trơn tru sẽ giúp cho đồng hồ chạy chính xác.  Các mô men xoắn lại nhỏ đến dễ sợ, vậy nên chỉ cần 1 sự xao động nhỏ nhất cũng sẽ gây ra hàng loạt sự chênh lệnh. Nếu các cuộn dây của balance spring bắt đầu hút hoặc đẩy nhau bởi bị từ tính thì trò chơi cân bằng lực tinh tế ấy sẽ ngừng lại và tạo ra các sự sai lệch. Trường hợp xấu nhất là khi các cuộn dây của hairspring hút nhau mạnh đến mức dính lại với nhau. Cả cuộn dây của balance spring sẽ bị nối liền, làm giảm đáng kể độ dài tối ưu của lò xo và làm cho đồng hồ chạy rất nhanh. Sớm muộn thì cơ chế tinh tế của bộ movement đó sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi từ trường. Ban đầu, từ trường “chỉ” tạo ra ảnh hưởng đáng kể lên độ chính xác khi chạy của đồng hồ, nhưng về lâu dài, từ trường chắc chắn sẽ làm cho các bộ phận tí hon trên ngưng hoạt động. Khi ở trong môi trường có từ trường mạnh, movement sẽ chết hẳn và không thể chạy lại được.

Có một luật bất thành văn đó là những chiếc đồng hồ không ngừng hoạt động dưới tác động của từ trường ở 1 mức nhất định và không vượt quá mức sai số quy định thì được gọi là “kháng từ” theo như các tiêu chuẩn của DIN. Theo tiêu chuẩn DIN 8309, đồng hồ cơ ( có bán kính movement lớn hơn 20mm) được xem là kháng từ khi mức sai số sau khi tiếp xúc  với từ trường cỡ 4800 A/m (tương đương 6mT)  không vượt quá ±30 giây 1 ngày. Ngoài ra thi đồng hồ cũng không được dừng khi tiếp xúc với từ trường ở cường độ nói trên. Tuy nhiên, tiêu chuẩn 4800 A/m của DIN 8309 lại quá thấp để bảo vệ chiếc đồng hồ trong thực tế.

Vấn đề từ thuở sơ khai

Khi các thiết bị điện chiếm lấy không gian đời sống, tạo ra một lượng từ trường tăng không ngừng, thì các nhà làm đồng hồ đã suy tính đến chuyện bảo vệ được những cỗ máy thời gian khỏi từ trường được đến mức nào. Từ những năm 1888, dưới sự quản lý của Johnnaes Vogel Muster, IWC đã sản xuất cho công ty Non-Magnetic Watch 2 movement kháng từ với mức 16- và 19- line(ở đây cần quy đổi ra mm). Các bộ phần như bánh răng, lò xo, bộ thoát chuyển động được  làm từ hợp kim paladi, đồng vàng. Sau này, việc chống từ tính đã trở thành mối quan tâm hàng đầu, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự. Việc hiện đại hoá các buồng lái máy bay tạo thêm hàng loạt nguồn từ trường. Vì vậy, IWC đã phát triển 1 chiếc đồng hồ pilot cho không quân Đức vào cuối những năm 1930, với bộ movement 19 line (đổi ra đơn vị mm) mang mã số 52 T.S.C nằm gọn trong dial, vòng giữ movement và phần sau của case được làm từ sắt mềm. Case sắt mềm ở bên trong bao trùm lấy movement sau này trở thành tiêu chuẩn cho những chiếc đồng hồ pilot cuảIWC và hình thành nên 1 tiêu chuẩn mới cho đồng hồ có kháng từ trường.

Omega 1000 gauss IWC

Ảnh cho thấy cẩu trúc của case với case sắt mềm ở bên trong. Nó đóng vai trò như 1 cái lồng Faraday, bảo vệ đồng hồ khỏi từ trường ở mức 1000 gauss (~ 80000 A/m)

Đây là hình minh hoạ cách hoạt động của case bên trong. Từ trường sẽ bị đảo hướng đi quanh movement

Các điểm yếu trong cấu trúc này là các mối hở ví dụ như ô lịch.

Từ trường không thể nhìn được bằng mắt thường nhưng nhờ giả lập vi tính, sự khác nhau về mức độ của các luồng từ trường thể hiện qua quang phổ; màu đỏ thể hiện mức từ trường cao, vùng xanh dương là khu vực không có từ trường

Khi cường độ từ trường vượt 1000 gauss thì lớp bảo vệ tạo bơi sắt mềm bị phá vỡ

Omega đã bỏ toàn bộ các bộ phận kháng từ khỏi bộ movement mới. Kết quả là bộ movement  8508 có thể chịu từ tường trên 15000 gauss.

Đặc biệt vào những năm 1950, một series các mẫu đồng hồ mới được ra mắt với đối tượng khách hàng mới: các kỹ sư, kỹ thuật viên, nhà hoá học, phi công và bác sĩ – tất cả những ai mà thường xuyên làm việc trong môi trường có từ trường. Dù đã có chiếc Ingenieur của IWC cho những đuối tượng này hay chiếc Railmaster của Omega và  chiếc Rolex Milgauss. Mức kháng từ lần lượt là 1000 gauss, 900 gauss và 1000 gauss. Không phải ngẫu nhiên mà  những chiếc đồng hồ chuyên dụng này lại nằm trong nhóm 1000 guauss. Lý do đó là tất cả các mẫu này đều dùng kiểu case sắt mềm để chống từ trường nên chỉ có thể chịu dược mức tối đa là 1000 gauss. Từ trường mạnh sẽ vượt qua kiểu lồng faraday này.

Trong mẫu Ingenieur của IWC, giữa đáy thép và movement là một lớp đáy phụ bằng sắt mềm, vừa đóng vai trò một căn máy, vừa giảm tác hại của từ trường theo kiểu lồng Faraday.

 

Công nghệ của Omega là một bước tiến hoá.

Không có gì ngạc nhiên khi không hề có giải pháp nào tốt hơn case sắt mềm mãi cho đến gần đây. Một nhược điểm khác của giải pháp case sắt mềm này là khiến case khá dày và không thể “khoe” movement qua lớp kính saphire ở mặt dưới.  Dù các có các tiến bộ cũng như sự công nghiệp hoá của vành tóc ( balance spring) đã vượt trội hơn rất nhiều so với kiểu truyền thống bởi silicon cũng là 1 vật liệu kháng từ. Tuy nhiên, tất cả các bộ phận dễ nhiễm từ khác vẫn cần phải loại bỏ. Sự hợp tác giữa các kỹ sư trong Swatch Group ( gồm ETA, ASULAB, Nivarox FAR và Omega) đã tạo ra 1 bộ máy Omega mới mà đã thay thế hoàn toàn các các bộ phận dễ nhiễm từ thành loại kháng từ.

Từ trái qua phải: Mathieu Oulevey, Quản lý dự án của  ETA, Thierry Conus, Trưởng bộ phận R&D của ETA, Raynald Aeschlimann, Phó chủ tịch  Omega, Head & International Sales Director, Jean-Claude Monachon, Vice President Omega & Head of Product Development, Michel Willemin, CEO Asulab.

Từ trái qua phải: Mathieu Oulevey, Quản lý dự án của  ETA, Thierry Conus, Trưởng bộ phận R&D của ETA, Raynald Aeschlimann, Phó chủ tịch  Omega, Head & International Sales Director, Jean-Claude Monachon, Vice President Omega & Head of Product Development, Michel Willemin, CEO Asulab.

 

Bộ movement mới được tạo ra dựa trên máy 8500 có  Cơ cấu hồi đồng trục (coaxial escapement) gồm Balance spring silicon Si14 và con lắc cân bằng ( balance wheel) titanium. Được đặt tên 8508, giao động ở mức 25200 vph, dự trữ cót 60 giờ. bộ máy kháng từ này đã nhận chứng chỉ từ Official Swiss Chronometer Testing Institute (COSC)

Omega Silicon Si14 balance spring

Omega Silicon Si14 balance spring

Silicon Si14 balance spring and a titanium balance wheel.

Silicon Si14 balance spring and a titanium balance wheel.

 

Và đặc biệt nhất là nó có thể chịu từ trường lên đến 15000 gauss! Điều này được khắc hẳn lên cả dial. Đáng ngạc nhiên hơn là Omega đã cho thử nghiệm ở bên ngoài và dạt kết quả  còn cao hơn. Có tin đồn là nó có thể chịu từ trường lên tới 30000 gauss. Nhưng để xác nhận tin đồn kia cũng không dễ gì vì phải cần 1 tổ chức chuyên nghiệp xác nhận mới được. Trái lại, mức 15000 gauss mà Omega đưa ra thì có thể  xác nhận được bởi Swatch Group, vậy nên Omega mới cam kết giá trị tối thiểu này.

Và phải nhắc lại 1 lần nữa là ở mức 15000 gauss, nó vượt 15 lần mức mà iWC hay Rolex có thể chịu được. Đó hẳn là một thành tựu đáng lưu tâm. Khả năng chịu đựng thực tế của Omega cũng cao hơn con số được khắc trên máy thì quả thật là không còn gì để nói. Chiếc đồng hồ 41.5mm với khả kháng chống nước 150m này sẽ không nao núng đồng hành với bạn dẫu cho bạn định làm gì.

Không phải là một model đặc biệt nhưng là sự bắt đầu cho việc sản xuất hàng loạt.

Con át chủ bài thực sự là việc: Chiếc Omega Seamaster Aqua Terra >15 000 Gauss không phải là 1 model siêu đắt đặc biệt, nó thậm chí không phải là phiên bản giới hạn. Đây chỉ là một model mà Omega đưa ra để giới thiệu công nghệ mới. (Bài viết từ 2013, hiện tại thì các model này đã được sản xuất đại trà). Chênh lệnh giá giữa Seamaster Aqua Terra với model chuẩn chạy máy 8500 chưa đến 1000 euro. Các máy omega từ giờ trở đi sẽ được phát triển theo hướng này – tất cả đều kháng từ. Việc sản xuất đại trà đang được tiến hành. Trụ sở chính của Omega ở Biel dự báo rằng trong khoảng 5 năm nữa thì toàn bộ các dòng sản phẩm của Omega đều chuyển sang dùng loại máy này.

 Omega Seamaster Aqua Terra >15.000 Gauss

Đây là hình dáng của chiếc Omega Seamaster Aqua Terra >15.000 Gauss. Nó trông không khác gì chiếc Seamaster hiện tại ngoại trừ có thêm kim giây và vòng chỉ phút màu vàng.

 Omega Seamaster Aqua Terra >15.000 Gauss

Omega Seamaster Aqua Terra >15.000 Gauss chịu từ trưởng lớn hơn 15000 gauss tức gấp 15 lần Rolex Milgauss hay IWC Ingenieur.

Tuy rằng nghe chỉ như một tiểu thuyết viễn tưởng nhưng nó sẽ sớm đe doa các đối thủ của Omega. Tới nay, chuyện nhiễm từ vẫn còn nhận được ít sự quan tâm và chỉ một số ít nhân viên của các hãng đồng hồ nói về chuyện này. Nhưng điều này sẽ sớm thay đổi khi Omgega đưa điều này vào các chiến lược quản cáo. Điểm độc đáo này sẽ thuyết phục khách hàng sử dụng 1 chiếc Omega và sẽ làm cho đối thủ khổng lồ Rolex lo lắng.

Swatch Group đã mang đến cho Omega một món quà ô giá trị. Nó là một bước tiến hoá trong thế giới sản xuất đồng hồ nhưng có thể cuộc chạy đua sẽ làm cho nó giảm bớt sự lớn lao này. Nhìn xa hơn thì sẽ rất khó khăn để cải thiện thêm đồng hồ cơ. Những sử gia trong tương lai sẽ ghi công của Omega trong việc tạo ra bước tiến hoá này.

Chiếc Omega Semaster Aqua Terra tại buổi trình diễn. Với 1 cục nam châm ở mức 5000 gauss đặt bên trên; Omgea vẫn hoạt động một cách hoàn hảo.

                                                

Viết bình luận

[X]
PKD : Ms Hạnh
090.299.9126/097.276.8813